Blog phổ thông GD&ĐT Đức Linh
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên phải, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên phải.
Giáo viên phải hiểu biết thấu đáo về chuyên môn của mình
(GD&TĐ) - Từ lâu, tại Hoa Kỳ đã có một cuộc tranh luận về cấu trúc các chương trình đào tạo GV. Theo PGS.TS Cary J. Trexler (người thuyết trình chính tại Hội thảo mô hình đào tạo GV THPT và TCCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngày 17/9/2009, tại Hà Nội), thì cuộc tranh luận đó xuất phát từ quan điểm khác nhau về tỷ lệ nội dung của các chương trình đào tạo GV và vị trí của các trường sư phạm. PGS.TS Trexler hiện đang công tác tại Khoa Giáo dục (ĐH California, Davis), trong 5 năm qua ông đã làm việc với các trường ĐH ở Việt Nam nhằm giúp đỡ phát triển các chính sách đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới các chương trình sau ĐH.
![]() |
| Giáo viên trao đổi với HS về những đồ dùng cần chuẩn bị cho một tiết học (Ảnh: GV và HS Trường tiểu học Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội) |
“Ý tôi muốn nói đến ở đây là khối lượng nội dung kỹ thuật trong một môn học kiến thức chuyên môn so với khối lượng nội dung sư phạm cần có để trở thành một GV tập sự điển hình”- PGS.TS Trexler nói trong phần thuyết trình của mình và ông đã nhắc đến một nhóm các trưởng khoa sư phạm chuyên nghiệp đã cùng nhau thảo luận và phân tích một cách hệ thống vấn đề này (vào giữa thập niên 80). Đó là nhóm Holmes. Nhóm này đã đưa ra những kết quả nghiên cứu quan trọng là tất cả các chương trình đào tạo GV có chất lượng cần đòi hỏi: Bằng cử nhân của các ngành học có liên quan, tiếp theo là một năm học sư phạm và thực hành giảng dạy HS. Các GV không nên được đảm bảo vị trí GV thường xuyên nếu không thể hiện được sự hiểu biết thấu đáo về chuyên môn của mình. Đề xuất chủ yếu của nhóm Holmes là loại bỏ các môn học xã hội- nhân văn tự do trong GD, những môn mà nhóm này cho rằng có rất ít kiến thức thực chất và không giúp chuẩn bị cho GV giảng dạy chúng với chiều sâu hiểu biết. Lập luận được đưa ra là cách thực hành sư phạm khác nhau giữa các môn học, vì vậy GV đòi hỏi phải được đào tạo chuyên sâu về việc truyền thụ nội dung trong các ngành học khác nhau. Ví dụ: Việc giảng dạy các lớp thí nghiệm môn hoá học khác nhiều so với giảng dạy văn học Anh, nhưng rất ít GV tốt nghiệp với bằng cử nhân về các môn học xã hội- nhân văn tự do có đủ khả năng nắm bắt được hết cách tiếp cận giảng dạy khác nhau này. Hơn nữa, hầu hết GV không có đủ kiến thức môn chuyên ngành để thậm chí là cố gắng giảng dạy theo những cách sâu sắc và có ý nghĩa.
| PGS.TS Cary J.Trexler đã xuất bản trên 50 bài nghiên cứu ở Mỹ và trên thế giới. Những nghiên cứu của ông tập trung vào phương pháp dạy và học cũng như vấn đề phát triển nghề nghiệp GV trung học. Ông đã tư vấn cho Bộ GD&ĐT Việt Nam về chuẩn nghề nghiệp GV trung học và tư vấn cho UNESCO- Hà Nội các vấn đề về quản lý GV. Hiện ông đang làm việc với vai trò là chuyên gia tư vấn về chuẩn và kiểm định GV cho Dự án phát triển GV THPT&TCCN (Bộ GD&ĐT). |
PGS.TS Trexler nhấn mạnh rằng nghiên cứu về đào tạo GV đã xác minh những lợi ích của việc có những GV kiến thức sâu hơn nữa về môn chuyên ngành, có hàm lượng sư phạm lớn hơn và có kinh nghiệm giảng dạy lâu dài hơn. Những kết quả nghiên cứu khác chỉ ra rằng những người tốt nghiệp chương trình kéo dài 5 năm thường thoả mãn hơn với nghề nghiệp của mình và coi chất lượng chương trình học của họ cao hơn so với những người tốt nghiệp chương trình 4 năm. Hơn nữa, do được tham gia thực hành giảng dạy đồng thời với việc tham gia các khoá học, nên họ có nhiều cơ hội phân tích về lớp học mà họ giảng dạy đồng thời với việc tham gia các lớp học về sư phạm. Điều này giúp họ học cách trải qua một quy trình mang tính chu kỳ (lập kế hoạch- hành động- quan sát- phân tích). Quy trình này giúp các GV mới trở thành những người giảng dạy có khả năng tự đánh giá.
Mặc dù cho rằng chương trình đào tạo 5 năm có những lợi ích dài hạn, đặc biệt là việc có thời gian làm quen với nghề giảng dạy lâu hơn, tuy nhiên, PGS. TS Trexler cũng chỉ ra những điểm bất lợi ở các chương trình đào tạo GV 5 năm. Đó là chi phí quản lý hành chính cao, gánh nặng kinh tế tăng cao đối với SV do phải học thêm một năm, nhu cầu phải cải cách chương trình trong các trường ĐH, thiếu những người kèm cặp có chất lượng đối với các giáo sinh và nếu sau khi được đào tạo, những người này lại không làm đúng nghề thì sẽ rất lãng phí cho nhiều nguồn lực kinh tế.
Hoàng Minh
Hứa Ngọc Thọ @ 10:42 28/09/2009
Số lượt xem: 672
- "Học để làm gì ?" (25/09/09)
- Bước 'đánh động' để hiệu trưởng soi mình (25/09/09)

Ý kiến thành viên